Chào mừng quý vị đến với Thư Viện Ngữ Văn của Ngô Quang Hớn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
SAU PHÚT CHIA LY
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Web Vô Thường
Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:07' 05-10-2010
Dung lượng: 568.3 KB
Số lượt tải: 66
Mô tả:
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Nguồn: Web Vô Thường
Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:07' 05-10-2010
Dung lượng: 568.3 KB
Số lượt tải: 66
Mô tả:
Chiến tranh lọan lạc đã gây bao nỗi đau khổ trong lòng người.Nỗi buồn sầu,tình thương nhớ,cảnh ngộ cô đơn của người vợ trẻ sau lúc tiễn chồng ra trận thật cảm động!Trong nỗi buồn của người vợ trẻ ấy còn chất chứa nỗi oán hận chiến tranh phi nghĩa làm hạnh phúc lứa đôi tan vỡ,đồng thời nỗi buồn ấy còn thể hiện niềm khát khao của người vợ muốn sống trong tình yêu thương,hạnh phúc trọn vẹn.Đó là tất cả những tâm tư,nỗi niềm được thể hiện trong đoạn thơ " Sau phút chia li " trích trong " Chinh phụ ngâm khúc " của Đặng Trần Côn.
Mở đầu đọan thơ là âm thanh một tiếng sáo.Nhưng tiếng sáo này không phải là tiếng sáo tươi vui,tiếng sáo xuất hiện trong những bữa tiệc rượu hay tiếng sáo những lúc chia li của những người bằng hữu,mà ở đây là tiếng sáo từ xa vọng lại,tiếng sáo cho sự chia li của đôi vợ chồng trẻ.Kẻ đi người ở lại,tiếng sáo xuất hiện làm cho không gian bỗng trở nên não nùng hơn,hoang vắng hơn.Trong cái không gian ấy,hình bóng của một hàng cờ bay phất phơ,hình ảnh của người chồng ra chiến trường dần dần khuất sau những đám mây trên ngọn núi.Nhìn hình bóng chàng ra dần dần mờ nhạt đi,thiếp chỉ cỏn biết "ngẩn ngơ" trong muôn vàn tâm trạng.
Chàng thì đi cõi xa mưa gióThiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
"Cõi xa mưa" và "buồng cũ chiếu chăn" là hai hình ảnh ẩn dụ ước lệ.Khi người xưa nói "cõi xa mưa gió" là để ngầm chỉ chiến trường nguy hiểm,còn buồng cũ chiếu chăn để chỉ cho tổ ấm trước đây của hai vợ chồng.Tuy trở về với mái ấm lúc xưa nhưng giờ đây đó lại là một mái ấm hạnh phúc cô đơn.Vì sao ư?Vì hiện thực của cuộc sống quá phũ phàng,hiện thực của một cuộc chia li,của một sự xa cách khắc nghiệt.Tiễn chồng ra đi nơi chiến trường khốc liệt,người vợ trở về tổ ấm cũ trong sự lẻ loi đơn chiếc.Lúc này,người vợ trẻ mới thấm thía được nỗi cô đơn.Người vợ đóai trông theo hình bóng chủa chồng mình chỉ thấy mây biếc núi xanh.ở đây ta thấy nỗi sầu chia li nặng nề,nỗi buồn ấy như phủ lên màubiếc của từng mây,như trải lên màu xanh của núi ngàn.hai hình ảnh mây biếc,núi xanh ở đây chỉ cho sự xa cách."Tuôn màu mây biếc","trải ngàn núi xanh" gợi nên nét mênh mang vần vũ của thiên nhiên.Nỗi buồn chia li thêm da diết,rộng lớn tưởng đến không cùng.Nỗi buồn đã tăng dần,trở thành nổi sầu muộn dâng lên tràn ngập trong lòng người đi kẻ ở.
Ta thấy trong bốn câu tiếp theo,tác giả đã sử dụng những địa danh ở Trung Quốc:Hàm Dương,Tiêu Tương tượng trưng chosự xa cách của dôi vợ chồng.Cũng như ở bốn câu thơ đầu,ta cũng gặp những hình ảnh đối lập "chàng ngoảnh","thiếp trông".Tuyphải xa nhau nhưng tình cảm của đôi vợ chồng vẫn còn sâu nặng.Chiến tranh phong kiến không chỉ làm cho huynh đệ tương tàn mà còn đẩy bao gia đình vào cảch ly tán,vợ chồng muốn sôang bên nhau trọn đời hạnh phúc má phải chia xa.Bằng những hình ảnh tương phản đối lập với các điệp từ và đảo vị trí của hai địa danh,tác giả muốn chia đều cảm xúc của hai người,nhấn mạnh nỗi sầu xa cách.Đọc bốn câu này ta thấy tình cảm nhớ thương cứ tăng, tăng dần.Điều đó cho thấy sự chia li ở đây không chỉ là sự chia li về thể xác mà nó còn là sự chia li về tâm hồn.Tuy xa cách nhưng họ vẫn hướng về nhau để tìm thấy,để mãi mãi nhìn thấy nhau.cáng hướng về nhau thì không gian lại càng làm họ xa cách nhau.
Ở bốn câu cuối,nỗi buồn chia li đã trở thành một khối sầu thuơng nặng trĩu trong tam hồn người chinh phụ.Mọi địa điểm vị trí của câu thơ trước đều bị nhòa mờ đi.Chỉ còn lại những hàng dâu nốii nhau xanh xanh rồi xanh ngắt,xanh đến rộn ngộp,xanh đến não nề,nhứt buốt tận đáy lòng.Để đến cuối cùng người chinh phụ phải thốt lên một lời kêu:'Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?".Như vậy đến lúc náytác giả không tả cảnh ngụ tình nữamà đã chuyển sang tả trực tiếp vào tâm trạng của người chinh phụ,và dường nhu đó cũng là chính tâm sự của tác giả Từ sầu trong câu cuối như đúc kết lại tất cả những cung bậc tình cảm ở những câu trên.Đó là nỗi buồn biệt li đã trở thành nỗi sầu trong lòng người vợ trẻ.
Nguyễn Phúc Hải Nguyên
Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tư liệu sai quy định
Xem toàn màn hình
Mở thư mục chứa tư liệu này
Nhắn tin cho tác giả
Báo tư liệu sai quy định
Xem toàn màn hình
Mở thư mục chứa tư liệu này
Số lượt thích:
1 người
(Hoàng Ngọc Sen)


SAU PHÚT CHIA LY
Đặng Trần Côn
Chinh Phụ Ngâm
Diễn Nôm : Đoàn Thị Điểm
Tác Giả Và Tác Phẩm
"Tác Giả :Chinh Phụ Ngâm nguyên văn chữ Hán do Đặng Trần Côn sáng tác. Sau đó bà Đoàn Thị Điểm đem diễn Nôm điệu song thất lục bát.
Đặng Trần Côn:
Người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Ông sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Côn xưng chúa, cầm quyền. Vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) đời Hậu Lê, gặp buổi binh cách, lính thú đi chinh chiến nhiều nơi, gây nên bao cảnh gia đình ly biệt, Đặng Trần Côn cảm xúc làm bài Chinh Phụ Ngâm, theo thể thơ xưa, âm điệu thanh tao và lâm ly thể hiện nỗi lòng người chinh phụ nơi chốn cô phòng.
Bà Đoàn Thị Điểm:
Người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giàng, tỉnh Bắc Ninh, em gái ông Giám sinh Đoàn Luân. Bà rất thông minh, năm lên sáu tuổi đã làu thông Tứ Thư Ngũ Kinh. Bà có soạn tập Tục Truyền Kỳ và diễn Nôm bài Chinh Phụ Ngâm này.
Tác Phẩm
Chinh Phụ Ngâm là một thể cách giáo huấn, lấy chinh phụ làm phần khách quan, lấy giáo huấn làm phần chủ quan để dạy kẻ mày râu khăn yếm, lấy nghĩa tu nhân xử thế cho xứng với phận sự làm người.
Trước hết dạy người ỡ đời có sinh phải có tử. Cái chết ai cũng phải có, nhưng chết hoặc nặng tày non cũng có khi nhẹ tựa lông hồng, mà đã là đấng nam nhi thì thường giữ chí "tang bồng hồ thỉ". Lại dạy kẻ nữ nhi khi đã thành gia thất phải lo nội trợ tề gia, khi chồng đi chinh chiến, ở nhà phải lo nuôi già dạy trẻ, hiếu nghĩa trọn phần. Lời giáo huấn phận sự làm trai làm gái đều có ý nghĩa chính đáng, lời lẽ ôn hòa.
Tác giả mượn người chinh phụ để viết bài Chinh Phụ Ngâm, trong đó có hai ý tưởng: Một là cảm xúc nỗi chinh chiến và biệt ly đã diễn nên nhiều đau khổ và mong được hòa bình. Hai là phấn chí anh hùng, giục lòng quyết thắng, giữ dạ trung kiên, đem lòng hứa quốc."