Chào mừng quý vị đến với Thư Viện Ngữ Văn của Ngô Quang Hớn.
Hoài Cảm

Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa
Quạnh hiu về thấm không gian
âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều chợt nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn
Lòng cuồng điên vì nhớ
ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa
Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối
Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?
Chờ nhau hoài cố nhân ơi!
Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!
Thời gian tựa cánh chim bay,
qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?
Mỗi người đều có những nỗi buồn, nỗi buồn lớn nhất phải chăng là hồi ức về một cuộc tình đã mất?
Nhạc Cung Tiến đến với tôi trong những khoảnh khắc buồn bã nhất.
Hoài cảm, Thu vàng là hai nhạc phẩm gắn liền với tuổi trẻ của tôi: Một thời mộng mị, đau khổ, hạnh phúc.
Buổi chiều là thời gian xúc tác nỗi buồn.
Trong văn chương cổ điển, người ta vẫn thường dùng buồi chiều làm nền cho nỗi buồn. Buổi sáng, bình minh cho mọi lạc quan, yêu đời.
Chúng ta lưu ý thời điểm sáng tác bản nhạc “Hoài cảm”, “Thu vàng”
Cả hai nhạc phẩm trên được tác giả viết vào năm 1953, năm Cung Tiến học lớp đệ tứ, với độ tuổi 15 – tuổi của mơ mộng, yêu đương.
Đó là thời kỳ phát triển tột bực của các trào lưu văn học, nghệ thuật lãng mạn.
Chúng ta hãy xem buổi chiều xúc tác nỗi buồn của cậu bé tuổi 15 như thế nào:
“Chiều buồn len lén tâm tư. Mơ hồ nghe lá thu mưa. Dạt dào tựa những âm xưa. Thiết tha ngân lên lời xưa. Quạnh hiu về thắm không gian. Âm thầm như lắng vào hồn. Buổi chiều chợt nhớ cố nhân. Sương buồn lắng qua hoàng hôn”.
Nhớ đến cố nhân, nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn một cách tịch lặng, rất nhẹ, sâu lắng, dịu êm: len lén (chiều buồn len lén tâm tư), mơ hồ (mơ hồ nghe lá thu mưa), dạt dào (dạt dào tựa những âm xưa), thiết tha (thiết tha ngân lên lời xưa), quạnh hiu (quạnh hiu về thắm không gian), âm thầm (âm thầm như lắng vào hồn).
Sang điệp khúc, cung đoạn chuyển, trạng thái xuất thần, chữ “cuồng điên” biểu lộ tâm trạng thăng hoa cho nỗi nhớ:
“Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ? Chờ hoài nhau trong mơ. Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa. Một mùa thu xa vắng. Như mơ hồ về trong đêm tối. Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa”
Điệp khúc diễn tả nỗi nhớ đến điên cuồng, các ca từ rất rõ ràng, không ẩn ý, không cao sang, không khó hiểu. Nhưng sự biểu cảm qua ngôn ngữ thì quá thành công: “Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?”. Lời gọi thống thiết người yêu, chàng gởi thông điệp: “Chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa”.
Giai điệu bài hát chậm, nhẹ như kể lễ, chúng ta nghe Sĩ Phú hát sẽ thấm đẫm nỗi buồn và có một cái gì vương vấn mãi, phải chăng vì tâm trạng thất vọng: “Chờ hoài nhau trong mơ nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa”.
Qua “Thu vàng” thì giai điệu bài hát không còn chậm, ướt sũng , trĩu nặng nỗi buồn như “Hoài cảm”. Bài hát được viết theo giai điệu Valse, Thanh Lan hát rất sinh động.
Trong “Thu vàng”, nội giới liên lạc chặt chẽ với ngoại giới.
Cũng như “Hoài cảm”, thời gian làm nền cho “Thu vàng” vẫn là buổi chiều, hoàng hôn: Một người lang thang trên đường, nhìn lá vàng rơi …
Không gian ấy được bao phủ bởi một gam màu vàng. Màu vàng của hoàng hôn, màu vàng của lá mùa thu:
“Chiều hôm qua lang thang trên đường. Hoàng hôn xuống, buồn thắm muôn hương. Chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng. Có mùa thu về, tơ vàng vương vương. Một mình đi lang thang trên đường. Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng. Lòng xa xôi và sầu mênh mông, Có nghe lá vàng não nề rơi không? Mùa thu vàng rơi là mùa lá vàng rơi”
Trong văn chương, tính chất ước lệ rất phổ biến. Mùa thu thường diển tả nỗi buồn, cũng như cơn mưa thường diển tả sự bi đát.
Thu vàng không chỉ định đối tượng (ngôi thứ hai). Ở đây Thu vàng là tâm sự của một người (ngôi thứ nhất) lang thang trên đường. Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi. Diển tả sự nuối tiếc, sự đau đớn tái người, thương tiếc cho sinh mệnh một cuộc tình.
Nếu “Hoài cảm” xác định đối tượng, tha nhân thì “Thu vàng” khác hẳn. Ở đây chủ thể hướng về một đối tượng không cụ thể nhưng hàm ngụ về nỗi đau một cuộc tình.
“Mùa thu vàng rơi là mùa lá vàng rơi. Và lá vàng rơi khi tình thu vừa khơi. Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi. Nghe chừng như đây màu tê tái”.
Nghe chừng như đây màu tê tái: Màu tê tái hay màu lá còn tươi?
“Chiều hôm qua lang thang trên đường. Nhớ, nhớ buồn, buồn với chán chường. Chiều hôm nay trời nhiều mây vương. Có mùa Thu vàng bao nhiêu là hương”.
Nhớ, nhớ buồn, buồn với chán chường. Điệp ngữ nhớ, điệp ngữ buồn được ngắt bởi dấu phẩy tạo ấn tượng sâu đậm diển tả nỗi buồn nhớ cao độ đối với người tình đã qua..
Bao nhiêu là hương hay bao nhiêu là nỗi buồn?
Như vậy “Hoài cảm”, “Thu Vàng” chỉ là hai mặt của một tình yêu. Một tình yêu đỗ vỡ. Nhưng có tình yêu nào không đỗ vỡ? Và có tình yêu nào được ca ngợi mà không kết thúc bằng chia tay?
“Hoài cảm”, “Thu vàng” là sản phẩm của một thời mơ mộng với mối tình đầu. Nghe “Hoài cảm, “Thu Vàng” chúng ta đồng cảm với nỗi buồn của Cung Tiến.
Và ít nhất một lần trong đời có mấy ai không trãi qua tâm trạng của những kẻ si tình , ôm trong lòng một nỗi đau?.
Tóc mai sợi vắn, sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.
Chính vì lấy nhau chẳng đặng, mới thương hoài ngàn năm. Còn lấy nhau đặng rồi thì thế nào?
Cũng như có nhà thơ đã viết: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dỡ. Đời mất vui khi trọn một câu thề. Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đậu. Để ngàn năm dang dỡ mối tình xưa”.
Trên website của mình, mới đây nhà văn Hoàng Hải Thủy thừa nhận: Ông đã tìm tất cả các tập thơ nỗi tiếng của các nhà thơ như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ, …ông chưa gặp một bài thơ nào ca ngợi tình nghĩa vợ chồng, trái lại chỉ toàn là thơ ca ngợi tình yêu.
Như vậy chính sự tuyệt vọng trong tình yêu đã là nguồn cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật.
Thập niên 60 đánh dấu sự phát triển, hưng thịnh của triết học hiện sinh. Con người thường xuyên đặt dấu hỏi về sự hiện hữu của mình và xem nó như là một sự phi lý. Không có cuộc sống nào đáng sống, nhưng lỡ sống thì phải chấp nhận cuộc sống. Do đó ta không ngạc nhiên, khi con người vấp ngã, thường đối diện với những nỗi buồn và tạo đà cho cảm xúc, sáng tạo. Phải chăng “Thu vàng”, “Hoài cảm” là một trong những nỗi buồn mà tác giả đã sáng tác làm tặng phẩm cho đời?
Chúng ta lưu ý nhạc sĩ Cung Tiến, ông tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938, khi viết văn ông lấy bút hiệu là Thạch Chương, ông thuộc thế hệ đàn anh, một trong những người sinh hoạt trong tập san “Sáng tạo”, vào thập niên 1960, bao gồm Doãn Quôc Sỹ, Nguyễn Sĩ Tế, Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Tạ Tỵ, ngọc Dũng, Vương Tân, …có tiêu chí vận động cho sự đổi mới trong văn chương, thi ca. Ông là một nhà phê bình trong các lĩnh vực văn chương, triết học.
Ngoài “Thu vàng”, “Hoài cảm”, còn một số các ca khúc khác rất nỗi tiếng như: Hương xưa, Nguyệt cầm, Lệ đá xanh, …
ST
Dương Thị Hoàng Hà @ 20:29 14/05/2011
Số lượt xem: 1499
- Ru ta ngậm ngùi- Trịnh Công Sơn (12/05/11)
- Ảo Ảnh (09/05/11)
- Biển Nhớ (09/05/11)
- Phôi Pha (08/05/11)
- Để Gió Cuốn Đi... (06/05/11)

ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa"