Tài nguyên dạy học

LỜI HAY Ý ĐẸP

Ngoảnh đầu lại mọi cái chỉ là không. Dưới vầng dương thấp thoáng bóng cây tùng .

Báo Mới.Com

Từ điển online


Tra theo từ điển:



Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện Cười

    Việt Video

    Chào mừng quý vị đến với Thư Viện Ngữ Văn của Ngô Quang Hớn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Thơ >

    Thiên Thai

     tesoro_escondido_1024x768_500

     

    Ca dao Việt Nam có câu :
    Trèo lên trái núi Thiên Thai
    Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây
    Đôi ta được gặp nhau đây
    Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng (ca dao)

    Truyện Kiều của Nguyễn Du có 4 câu diễn tả nhân lúc cha mẹ và hai em vắng nhà, Kiều đánh bạo sang phòng văn của Kim Trọng:
    Lần theo núi giả đi vòng
    Cuối tường dường có nẻo thông mới vào
    Xắn tay mở khoá động đào
    Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai (Câu 389 đến 392)

    Nàng Kiều và chàng Kim gặp nhau thì cái phòng văn của chàng Kim đối với đôi bạn tình son trẻ- trai tài gái sắc này nào có khác gì động Thiên Thai.
    Thiên thai là tên một hòn núi thuộc huyện Thiên thai, tỉnh Chiết Giang ở Trung Hoa . Sách "Thần tiên truyện" chép: Đời Hán Minh đế, niên hiệu Vĩnh bình (58 sau DL) có hai chàng nho sĩ tên Lưu Thần và Nguyễn Triệu quê đất Diêm Khê. Gặp tiết Đoan Ngọ cũng gọi Đoan dương (mùng 5 tháng 5 âm lịch), theo tục lệ, người ta thường vào núi Thiên thai hái thuốc chữa bệnh. Hai chàng Lưu, Nguyễn cùng đi, nhưng chẳng may bị lạc, không tìm được lối về.
    Vơ vẩn trong núi gần tháng trời mà không tìm được lối ra. Lương thực mang theo đã hết đành phải hái những quả đào chín mọng hai bên bờ suối hay ven chân núi để ăn đỡ đói, rồi vốc nước khe mà uống.
    Nhìn dòng nước trong núi chảy ra, hai chàng Lưu, Nguyễn thấy có những hột cơm vừng và lá rau tươi lững lờ trôi, nên đoán chắc cách chỗ người ở không xa nữa. Cả hai bèn lần mò theo đường nước chảy, vượt qua mấy ngọn núi liền mới đến đầu ngọn khe thì thấy cây cỏ xinh tươi, phong cảnh cực kỳ đẹp đẽ. Đương ngẩn ngơ đứng nhìn bỗng nghe tiếng gọi, giọng rất thanh tao:
    - Lưu, Nguyễn hai chàng sao mà đến chậm thế!
    Nghe gọi đích danh mình, hai chàng cực kỳ ngạc nhiên, thì vừa lúc ấy hai cô gái rẽ hoa đi ra. Thực là đôi giai nhân tuyệt thế. Như quen biết nhau từ xưa, hai nàng ân cần mời hai chàng vào động, và xưng tên là Ngọc Kiều và Giáng Tiên. Lưu Thần và Nguyễn Triệu mừng rỡ vì được gặp người- lại người đẹp nữa, nên bằng lòng ngay.
    Đến động bước vào nhìn thấy chung quanh toàn trang trí cực kỳ mỹ lệ, đâu đây thoang thoảng mùi hương. Đến bữa cơm, hai nàng dọn cơm vừng và nem dê rừng mùi vị thơm phức, mời hai chàng dùng. Tối lại, một đoàn mỹ nữ đêm mâm đào chín và rượu ngọt đến, đoạn múa hát dưng đào và rượu, chúc tụng "Chúng em xin có lời mừng tân lang và tân giai nhân nên duyên cầm sắt". Nói xong, họ lại họp nhau vừa múa vừa hát. Xiêm y lộng lẫy, điệu múa uyển chuyển, giọng hát trong trẻo dưới ánh đèn rực rỡ kết tụi ngũ sắc, hai chàng Lưu, Nguyễn say sưa cho mình hạnh phúc lạc vào cảnh tiên.
    Đến khuya, tiệc tàn khách về. Hai nàng Ngọc Kiều và Giáng Tiên mời hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu cùng nâng ly chúc tụng nhau đêm tân hôn mặn nồng giữa hai nàng và hai chàng bền duyên giai ngẫu.
    Say mê cảnh đẹp, đầm ấm trong tình vợ chồng, hai chàng Lưu, Nguyễn hầu như quên hẳn cảnh trần gian.
    Ở đây ngày ngày tháng tháng, tiết trời ấm áp hơn xuân, không Hạ, không Thu, không Đông, đâu đâu cũng cỏ xanh hoa đẹp, bướm muôn màu nhởn nhơ bay lượn, chim hót véo von, trời trong mây thanh gió mát đượm mùi hương phảng phất quanh mình. Nhưng thời gian hai năm trôi qua, cảnh dầu đẹp, vợ dầu xinh, khí trời đầm ấm, cỏ có xanh, hoa có đẹp, bướm lượn, chim hót... cũng không sao xoá được nỗi nhớ quê nhà, nên hai chàng thỏ thẻ với vợ xin về thăm, hẹn thời gian ngắn sẽ quay trở lại. Hai nàng buồn bã ngăn hai chàng, không cho về. Nhưng lòng mơ nhớ cố hương ray rứt người lữ thứ, hai chàng cứ năn nỉ mãi. Biết không lưu chồng được, hai nàng ngậm ngùi, thở dài bảo:
    - Nhờ hồng phúc tiền thân mà hai chàng được cùng chị em chúng tôi kết duyên chồng vợ, kẻ tiên người tục hoà hợp chốn Thiên Thai. Tưởng rằng duyên ưa phận đẹp, trăm ngàn năm giữ một chữ đồng. Nào ngờ hai chàng căn trần chưa dứt nên mới luyến nhớ đòi về quê cũ. Cõi trần nhỏ nhen, kiếp trần ngắn ngủi đầy hệ luỵ, hai chàng có trở về chốn trần gian thì liễu cũ hoa xưa chắc không còn được như ngày trước nữa. Chia ly ai chẳng não lòng nhưng nghiệp chướng khó mà diệt nổi.
    Thế rồi hai nàng tiễn chân hai chàng ra khỏi động, bịn rịn đưa tận xuống núi. Nhìn xa xa khói lam phủ nóc nhà ai, quanh đi quẩn lại hai chàng ra khỏi núi Thiên Thai, chẳng mấy chốc xuống về quê cũ.
    Cây đa cổ thụ đầu làng còn kia nhưng cảnh vật đã khác hẳn trước. Làng xóm toàn người xa lạ, không còn ai có thể nhận ra hai chàng Lưu, Nguyễn là người đồng hương nữa. Cả hai cực kỳ làm lạ. Mới cách chỉ có hai năm, sao cảnh vật lại đổi thay một cách lạ kỳ. Lối cũ không còn. trừ cây cổ thụ đầu làng giờ đã già cỗi, cành lá úa vàng chứng tỏ đã xa lâu lắm rồi và bao lần biến đổi. Bỗng gặp một cụ già tuổi đã gần trăm, hai chàng Lưu, Nguyễn đến hỏi thăm. Cụ già bèn kể lại cách đây độ 400 năm, cụ có một ông tổ bảy đời tên Nguyễn Triệu. nhân tiết Đoan Ngọ cùng bạn là Lưu Thần vào núi hái thuốc rồi biệt tích. Bấy giời Lưu Thần, Nguyễn Triệu mới biết một ngày trên tiên giới bằng một năm ở trần gian. Cả hai bơ vơ, lấy làm hối tiếc bèn rủ nhau trở lại động Thiên thai. Nhưng thảm thay, đi vòng vo, quanh quẩn... cuối cùng lại lủi thủi trở về, vì lối xưa đã lạc mất rồi .. Ở quê cũ cho đến đời Tấn Võ đế (265- 275), Lưu Thần và Nguyễn Triệu mới bỏ đi, không ai còn gặp nữa.
    (trích Điển Tích Truyện Kiều- NXB Đồng Tháp)

    Chùm thơ "Thiên Thai" của Tào Đường

    Tào Đường tự Nghiêu Tân, người Quế Châu (tỉnh Quảng Tây). Ông vốn là một đạo sĩ, nên thơ của Ông mang tâm trạng nhàn dật, thoát ly, có tư tưởng "lạc thiên tri mệnh" , đầy phong cách thanh cao, lồng trong cảnh tiên thơ mộng, trầm lặng và êm đềm, hư hư thật thật, chan chứa khí vị Đạo Học. Thơ của ông miêu tả cảnh thiên nhiên cây cỏ sông núi như một bức tranh sơn thủy hữu tình, với màu sắc êm ái hài hòa, đã tạo nên sự thanh thoát tâm hồn, cuộc đời chỉ là vô thường ảo hóa, hữu hạn mong manh, chẳng có gì đáng bận tâm. Ông để lại những thi phẩm được truyền tụng khá nhiều, đó là : Đại Du Tiên Thi và Tiểu Du Tiên Thi . Chùm thơ "Thiên Thai" của Tào Đường gồm có 5 bài thuộc loại thơ "du tiên" miêu tả sự gặp gỡ và cách biệt giữa Lưu Thần, Nguyễn Triệu cùng hai nàng tiên ở núi Thiên Thai .

    1- Lưu Nguyễn Du Thiên Thai

    Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân
    Vân hòa thảo tĩnh, quýnh vô trần
    Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự
    Thủy mộc không nghi mộng hậu thân
    Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt
    Thời thời khuyển phệ động trung xuân
    Bất tri thử địa qui hà xứ
    Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân *
    Tào Đường

    Dịch nghĩa:
    Theo hàng cây vào động Thiên Thai, lối đá còn mới
    Mây êm, cỏ lặng, không vương chút bụi trần
    Nhìn chốn khói mây, không nhớ những việc đã qua
    Thấy cây và nước, ngỡ mình tỉnh mộng chiêm bao
    Thỉnh thoảng gà gáy dưới trăng bên sườn núi
    Đâu nay chó sủa trong động giữa mùa xuân
    Chẳng biết nơi nay thuộc nơi chốn nào ?
    Phải tới nguồn đào mà hỏi chủ nhân

    * Đào nguyên : tên núi ở huyện Đào Nguyên, tỉnh Hồ Nam

    Lưu Nguyễn Đi Chơi Núi Thiên Thai

    Lối đến Thiên Thai đá trắng ngời
    Cỏ cây thanh khiết nhẹ mây trôi
    Lãng quên kiếp trước mờ sương khói
    Tỉnh giấc mơ này cây nước thôi
    Xao xác gà kêu trăng dưới núi
    Đâu đây chó sủa động xuân tươi
    Ở đây chẳng biết nơi nào nhỉ ?
    Chắc đến Đào Nguyên gặp hỏi người ..
    Hải Đà phỏng dịch


    2- Lưu Nguyễn Động Trung Ngộ Tiên Tử

    Thiên hòa thụ sắc ái thương thương
    Hà trọng lam thâm lộ diểu mang
    Vân đậu mãn sơn vô điểu tước
    Thủy thanh duyên giản hữu sinh hoàng *
    Bích sa động lý càn khôn biệt
    Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường
    Nguyện đắc hoa gian hữu nhân xuất
    Miễn linh tiên khuyển phệ Lưu Lang
    Tào Đường

    Dịch nghĩa:
    Da trời với sắc cây chen lẫn thành màu xanh biêng biếc
    Ráng nặng nề, khí u ám, đường đi vời vợi mênh mang
    Mây phủ đầy núi vắng bóng chim sẻ
    Nước chảy trong khe như tiếng sáo thổi
    Cát biếc trong động tạo một khung trời riêng
    Lá đỏ bên cây, ngày tháng dài đăng đẳng
    Ước gì trong hoa có người xuất hiện
    Để chó tiên khỏi phải sủa chàng Lưu

    * Sinh hoàng : "sinh" là loại nhạc khí làm bằng quả bàu có những ống nhỏ khi thổi phát ra tiếng, "hoàng" là mảnh đồng
    trong ống "sinh"

    Lưu Nguyễn Gặp Tiên Trong Động

    Trời, cây xanh biếc mượt như nhung
    Khói tỏa âm u lối mịt mùng
    Đầy núi mây che chim vắng vóng
    Trong khe nước chảy tiếng tiêu vàng
    Cát xanh hang rộng khung trời biếc
    Lá đỏ cành tươi mãi tháng năm
    Mong ước trong hoa người xuất hiện
    Chó tiên đâu dám sủa chân chàng
    Hải Đà phỏng dịch


    3- Tiên Tử Tống Lưu Nguyễn Xuất Động

    Ân cần tương tống xuất Thiên Thai
    Tiên cảnh na năng khước tái lai !
    Vân dịch ký quy tu cưỡng ẩm
    Ngọc thư vô sự mạc tần khai
    Hoa lưu động khẩu ưng trường tại
    Thủy đáo nhân gian đinh bất hồi
    Trù trướng khê đầu tòng thử biệt
    Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài
    Tào Đường

    Dịch nghĩa:
    Ân cần tiễn nhau ra khỏi động Thiên Thai
    Cõi tiên đã đi rồi khó mà trở lại lần nữa
    Đây rượu tiên (vân dịch) người về hãy cố uống đi
    Lá thư quí (ngọc thư) nếu không việc gì chớ mở luôn
    Hoa cửa động vẫn còn tươi thắm mãi
    Nước chảy về trần không bao giờ trở lại
    Bần thần xót xa bên đầu suối, từ nay ly biệt
    Trên núi biếc chỉ còn ánh trăng sáng soi rêu xanh

    * câu 5 và 6 : “ Hoa lưu cửa động, nước xuôi cõi trần “
    (Bích Câu Kỳ Ngộ)

    Tiên Nữ Tiễn Đưa Lưu Nguyễn Rời Động

    Tiễn biệt Thiên Thai quyến luyến sầu
    Cõi tiên lưu lạc khó tìm nhau
    Rượu thần vui gượng xin người uống
    Thư quí chưa cần chớ mở mau
    Trước động hoa tươi còn thắm thiết
    Xuống trần nước chảy chẳng về đâu
    Xót xa bên suối sầu ly biệt
    Núi biếc trăng soi loáng bạc màu
    Hải Đà phỏng dịch


    4-Tiên Tử Động Trung Hữu Hoài Lưu Nguyễn

    Bất tương thanh sắt lý nghê thường *
    Trần mộng na tri hạc mộng trường
    Động lý hữu thiên xuân tịch tịch
    Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang
    Ngọc sa dao thảo liên khê bích
    Lưu thủy đào hoa mãn giản hương
    Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc
    Thử sinh vô xứ vấn Lưu Lang !
    Tào Đường

    Dịch nghĩa:
    Không còn ai đem đàn sắt ra gãy khúc Nghê Thường nữa
    Người trong mộng trần gian đâu biết mộng tiên dài
    Trong động riêng một bầu trời, cảnh xuân yên ắng
    Trần gian không có lối về, ánh trăng mênh mang
    Trên bãi cát ngọc cỏ tiên xanh biếc ven khe
    Theo nước cuốn trôi hoa đào tỏa hương thơm ngát khắp suối
    Hạt sương mai, ngọn đèn trước gió dễ tiêu tan
    Kiếp này không biết nơi nào để hỏi tìm chàng Lưu

    * Nghê thường : "Nghê thường vũ y khúc" là tên nhạc khúc đời Đường Minh Hoàng .

    Tiên Nữ Trong Động Nhớ Lưu Nguyễn

    Gãy khúc nghê thường chẳng có ai
    Mộng trần đâu biết mộng tiên dài
    Trời riêng góc động xuân yên ắng
    Nẽo khuất dương trần nguyệt úa phai
    Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc
    Suối thơm đào ngát nước xanh trôi
    Mỏng manh sương sớm đèn trong gió
    Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai ?
    Hải Đà phỏng dịch


    5- Lưu Nguyễn Tái Đáo Thiên Thai
    Bất Phục Kiến Chư Tiên Tử


    Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân
    Thương đài, bạch thạch dĩ thành trần
    Sinh ca tịch mịch nhàn thâm động
    Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân
    Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc
    Yên hà bất tự vãng niên xuân
    Đào hoa lưu thủy y nhiên tại
    Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân
    Tào Đường

    Dịch nghĩa:
    Lại tìm đến Thiên Thai thăm hỏi Tiên nữ Ngọc Chân
    Rêu xanh đá trắng đã thành tro bụi rồi
    Tiếng đàn ca không còn nữa trong động sâu im vắng
    Xóm cũ hoang liêu vắng bóng mây và hạc
    Cây cỏ không còn giữ màu tươi thắm ngày trước
    Ráng khói đìu hiu không giống cảnh xuân năm nào
    Hoa đào bên giòng nước chảy vẫn còn y như cũ
    Không còn thấy người hầu rượu cho mình lúc bấy giờ …

    Lưu Nguyễn Trở Lại Thiên Thai
    Nhưng Không Còn Gặp Tiên


    Lại tìm Tiên Nữ động Thiên Thai
    Đá trắng rêu xanh bụi phủ đầy
    Lặng lẽ hang sâu im tiếng nhạc
    Đìu hiu xóm quạnh vắng chim bay
    Tàn phai sắc cũ hờn cây cỏ
    Hờ hững xuân xưa chạnh khói mây
    Nước chảy hoa đào phơ phất đó
    Cố nhân hầu rượu chẳng còn đây !
    Hải Đà phỏng dịch

    Bài thơ Tống Biệt của Tản Đà

    Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai

    Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi

    Nửa năm tiên cảnh

    Một bước trần ai

    Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi

    Đá mòn, rêu nhạt

    Nước chảy, huê trôi

    Cái hạc bay lên vút tận trời

    Trời đất từ đây xa cách mãi

    Cửa động

    Đầu non

    Đường lối cũ

    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

     

    ST



     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Ngô Quang Hớn @ 22:00 17/07/2010
    Số lượt xem: 787
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến