Chào mừng quý vị đến với Thư Viện Ngữ Văn của Ngô Quang Hớn.
Chuyện phía sau bài thơ “Tình già”
Phan Khôi
một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
hai mái đầu xanh kề nhau than thở;
- "Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
mà lấy nhau hẳn đà không đặng.
Để đến nỗi tình trước phụ tình sau,
chi bằng sớm liệu mà buông nhau!"
Buông nhau làm sao cho nỡ ?
Thương được chừng nào hay chừng ấy,
chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng,
mà tính chuyện thủy chung!"
tình cờ nơi đất khách gặp nhau.
Đôi mái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung,
đố có nhìn ra được?
con mắt còn có đuôi.

Ông Phan Khôi và người vợ chánh năm 1956 tại Hà Nội. (Ảnh tư liệu của gia đình).
45 tuổi, Phan Khôi viết bài thơ “Tình già”, trong đó câu “Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau” là nói đến một chuyện tình ngang trái của ông hồi 21 tuổi.
Năm 1908, vì tham gia chống Pháp, Phan Khôi bị bắt giam tại nhà lao Hội An, lúc ấy ông chưa tròn 21 tuổi. Tại đây, ông đã lọt vào “mắt xanh” của một thiếu phụ trạc tuổi ông, vợ một võ quan hàng tứ phẩm trông coi nhà tù. Thấy ông là một thanh niên khí phách, vào tù chỉ vì tội tham gia lật đổ chế độ cai trị của thực dân Pháp, còn mình làm vợ viên võ quan này là do sự ép buộc nào đó, bà đem lòng yêu người tù nhân trẻ tuổi.
Một hôm, một bạn tù trao cho Phan Khôi cái gói lớn có mười miếng trầu têm kiểu Huế, mười miếng cau tươi bửa để dính nhau, thêm mười miếng vỏ chay và mấy chùm hoa sói. Ông hỏi thì người bạn tù bảo là của bà Ch. nhờ đưa cho ông. Ông lắc đầu: “Tôi có biết bà ấy là ai đâu, tôi không nhận”. Người đưa cái gói kể đầu đuôi: “Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch. Tôi được bà Ch. tin cậy đem tình riêng ngỏ với tôi. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, bữa nay gửi vật nhỏ này làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp mặt để nói chuyện”.
Nghe vậy, ông Phan không biết nói sao, cũng nhận gói trầu cau, nhưng thầm nghĩ: “Mình mà dính líu vào bà này, nếu chồng bà ta hay được, cũng khó cho mình. Khi họ là người có quyền thế trong tay, mà mình chỉ là một tên tù!”.
Bữa nọ, ông Ch. sai lính vào nhà lao hỏi thầy đội coi trong đám tù nhân có ai viết chữ tốt thì lấy một người ra nhà viết câu đối cho ông. Trong lao đều nhất loạt cử chàng tù nhân trẻ tuổi Phan Khôi. Khi ông Phan theo lính đến nhà ông Ch. thì đã thấy bày mấy vuông lụa đỏ và một nghiên mực lớn. Ông Ch. ngồi trên sập giữa nhà, người to lớn, mặt đen, mũi to, trông khoảng chừng 50 tuổi, hất hàm chào người tù. Một thiếu phụ còn trẻ lắm, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cổ quấn khăn nhiễu điều, ngồi bên kia sập.
Ông Ch. hỏi người tù có biết uống rượu không, rồi quay sang bảo thiếu phụ vào trong đem ra một chai rượu thuốc, rót đưa ông Phan một cốc đầy. Lúc ấy, ông Phan mới biết thiếu phụ chính là bà Ch.
Trong khi người tù viết, ông Ch. cứ ngồi nhắc chừng, chữ này viết thế này, chữ kia viết thế kia làm chàng trai muốn nổi cáu. Thiếu phụ chừng như biết ý, nói cùng chồng: “Tôi xem người này viết thạo, ông cứ để cho người ta viết tự do, khỏi phải nhắc nhở!”. Ông Ch. gạt ngang: “Mình nói lạ! Câu đối lụa ít tiền lắm sao!”. Thiếu phụ không nhịn được, cãi lại: “Nhưng có ai làm hư của ông đâu, ông cứ kèm một bên thì ai mà viết được!”…
Sau lần đó, một hôm, nhân chồng đi việc quan, bà Ch. sai người tin cậy vào nhà lao mời chàng trai tù nhân ra cho bà gặp, có người tâm phúc cảnh giới bên ngoài. Bà tiếp chàng trai trong một buồng xép. Ông Phan ngồi trên chõng nhỏ, bà ngồi ghế bên cạnh, đặt tay lên vai ông, dịu dàng hỏi: “Chớ anh làm chi mà họ bắt tù anh?”. Ông Phan trả lời một câu có vẻ bâng quơ mà hóm hỉnh: “Nội một việc tôi dám đến đây cùng bà là đủ mắc tội rồi!”. Vừa lúc ấy, người cảnh giới giơ cao hai tay làm hiệu. Bà Ch. biết chồng đã về, vội mở cửa cho người tình xuống bếp và dặn cứ ở đó một lúc. Nhưng ông Phan nghe tiếng nói ồ ồ của ông Ch. trên nhà, vội mở cửa bếp, chạy một mạch về nhà lao.
Từ đó, hai người không có dịp gặp nhau nữa. Không biết có phải ông Ch. do mang máng biết không, mà quản vợ rất kỹ… Không biết làm sao gặp được người mình yêu, bà nhờ người tin cậy nhắn ông Phan kiếm cớ đi ngang nhà bà để bà trông thấy.
Mấy tháng sau, ông Ch. dọn nhà sang ở chỗ mới cách nhà lao không xa, hai người trông thấy nhau nhưng không gặp được nhau.
Một bữa, ông Phan nhận được thư của bà Ch. Đó là lá thư đầu tiên mà cũng là lá thư cuối cùng. Trong thư, bà cho biết sắp tới bà đi chữa đồ nữ trang, mong gặp ông tại nhà thợ bạc. Ông Phan cũng đến nhà thợ bạc nhưng người đông quá, hai người chỉ nhìn nhau, không dám hỏi nói gì. Chợt ông Ch. cũng lò dò đến đó, mới thấy bóng ông ta xuất hiện trước cửa, ông Phan đã vòng ra ngõ sau đi một mạch.
Không ngờ đó là lần cuối cùng ông Phan thấy người thiếu phụ đa tình. Vài tháng sau, bà lâm bệnh, được đưa về Huế điều trị một thời gian ngắn rồi có tin bà từ trần. Ông Phan chợt nhớ lại câu bà viết trong thư độ trước như một lời trăng trối: “Yêu nhau mà không được gần nhau, thôi thì sống để dạ, chết đem theo!”.
Chuyện xưa, Phan Khôi đã trút tâm sự trong bài “Tình già”, nhưng trong đó có một chi tiết hư cấu là “tình cờ đất khách gặp nhau”. Bởi thiếu phụ ấy đã chết khi ông Phan còn ngồi trong lao.
THANH MINH
Hồ Văn Thiện @ 21:19 20/12/2010
Số lượt xem: 1380
- QUÊ HƯƠNG (17/12/10)
- Biệt Khúc (17/12/10)
- Nét đẹp bài thơ "Tống biệt" của Tản Đà (15/12/10)
- BIỆT ĐỔNG ĐẠI (08/12/10)
- Cung đàn xưa (05/12/10)

Hai cuốn sách "Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo năm 1931", và "Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn" do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, vừa được NXB Hội Nhà văn kết hợp Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Đông Tây xuất bản.
Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây vừa tổ chức buổi giới thiệu hai cuốn sách đã làm bộc lộ rõ hơn một chân dung Phan Khôi - tên tuổi lớn của báo chí, văn học và tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX mà bấy lâu nay vì một số lý do, người ta còn e dè khi nhắc đến.
Phan Khôi (1887-1959) sinh tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, con Tri phủ Điện Khánh Phan Trân, cháu ngoại Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu.
Tiếp thu các luồng tư tưởng từ Pháp, phương Tây, các trào lưu văn hóa tư tưởng từ Hồng Kông, Trung Quốc, Phan Khôi có tư duy sắc sảo hiếm thấy.
Các bài báo đăng tải trên báo chí khắp ba miền từ những năm 20 đến những năm 50 của thế kỷ XX, danh sách các tờ báo ông đã viết khó mà kể hết: viết cho Đông Tây, Đăng cổ tùng báo, Nam Phong, Thực nghiệp dân báo, Hữu thanh, Hà Nội báo, Phụ nữ thời đàm... ở Hà Nội; viết cho Đông Pháp thời báo, Thần Chung, Phụ nữ tân văn, Lục tỉnh tân văn, Trung lập...ở Sài Gòn; viết cho Tràng An và thành lập tờ Sông Hương ở Huế.
Nổi tiếng là cây bút sắc sảo và thẳng thắn, được làng ngôn luận rất vị nể, ông nêu được các vấn đề thời sự, nhạy cảm, khơi mào và tham gia những cuộc tranh luận sôi nổi trên báo chí thời bấy giờ như cuộc tranh luận về nữ quyền, về duy tâm - duy vật, về Nho giáo, về sự học, về văn chương, thi ca, về Truyện Kiều...
Cuốn Tác phẩm đăng báo 1931 bao gồm những bài ông viết trên các báo Trung lập, Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, Đông tây ở Hà Nội đề cập nhiều vấn đề như di sản Nho giáo và đời sống đương đại, những thiên lệch trong sự học của người Việt, bàn luận về sự yếu kém trong quy hoạch đô thị của người Việt, gia đình người Việt, v.v…
Khi tư tưởng về giải phóng phụ nữ sôi nổi, Phan Khôi viết bài đanh thép Tống nho với phụ nữ, trong đó vạch ra sự khắc nghiệt, vô nhân đạo của Tống nho khi cấm đàn bà góa đi lấy chồng. Chính bài này đã khiến thi sỹ Tản Đà tức giận, gọi Phan Khôi là “cái tai nạn lưu hành ở Nam Kỳ”, đáng bị án chém.
Phan Khôi cũng là người khơi mào cuộc tranh luận về “Quốc học” và lôi kéo các nhân vật tên tuổi tham gia như Trần Trọng Kim, Lê Dư, Phạm Quỳnh...
Cuộc tranh luận gợi ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó Phan Khôi dứt khoát cho rằng nước ta chưa có “quốc học” với ý nghĩa là chưa có những học thuyết, học phái nào được sản sinh ra ở đây.
Đảm nhận chuyên mục “Những điều nghe thấy” với bút danh Thông Reo trên tờ Trung lập, mỗi ngày ông hiến tặng bạn đọc một câu chuyện thú vị đáng suy ngẫm.
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho biết, ông hứng thú với nhân vật Phan Khôi là bởi ông không thỏa mãn với những thông tin ít ỏi trên sách vở về Phan Khôi - nhân vật văn hóa tầm cỡ.
Ông miệt mài đi tìm Phan Khôi qua những bài viết trên các tờ báo trong Nam ngoài Bắc hồi đầu thế kỷ XX, dần dần vạch ra được con đường làm báo của Phan Khôi, để rồi nhận ra và khẳng định được Phan Khôi là học giả, nhà văn hóa, nhà ngôn ngữ học, nhà tư tưởng.
Theo Lại Nguyên Ân, những tư tưởng của Phan Khôi về các vấn đề xã hội, về con đường phát triển đất nước, về những nhược điểm của dân tộc Việt Nam… cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự và tính giá trị.
Hiện Lại Nguyên Ân vẫn đang tiếp tục công trình biên soạn, mong muốn làm hiện lại rõ nét hơn nữa chân dung Phan Khôi, cũng như nền báo chí, văn học, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Nguyễn Hoàng Diệu Thủy