Tài nguyên dạy học

LỜI HAY Ý ĐẸP

Ngoảnh đầu lại mọi cái chỉ là không. Dưới vầng dương thấp thoáng bóng cây tùng .

Báo Mới.Com

Từ điển online


Tra theo từ điển:



Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện Cười

    Việt Video

    Chào mừng quý vị đến với Thư Viện Ngữ Văn của Ngô Quang Hớn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Thơ >

    Siêu Thoát

     
    Mới hay cõi siêu hình cao tột bực,
    Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao.

    Xa lắm rồi, xa lắm, hãi dường bao!...
    Ai tới đó chẳng mê man thần trí,
    Toà châu báu kết bằng hương kỳ dị
    Của tình yêu rung động lớp hào quang.

    Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang,
    Sẽ qui tụ, thâu về trong một mối,
    Và tư tưởng không bao giờ chấp nối
    Là vì sao ? Vì sợ kém thiêng liêng.
    Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên
    Cắt nghĩa hết những anh hoà huyền bí.

    Trời bát ngát không cần phô triết lý
    Tợ ánh lai chấp choá những hàng châu
    Ta hiểu chi ánh gió nhiệm mầu ?
    Những hạt lệ của trích tiên đày đọa

    A ha ha? Say sưa chê chán đã
    Ta là ta hay không phải là ta ?
    Có gì đau, cả thế giới cao xa,
    Như cỗi rễ của trăm nguồn đạo hạnh

    Hớp rượu mạnh, máu càng hăng sức mạnh
    Ôi điên rồi! Khoái lạc đến ngất ngư
    Thương là thương lòng mình giận chưa nư
    Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ.
                HÀN MẠC TỬ

    Nhắn tin cho tác giả
    Dương Thị Hoàng Hà @ 11:09 22/12/2010
    Số lượt xem: 1287
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    "Trời bát ngát không cần phô triết lý
    Tợ ánh lai chấp choá những hàng châu
    Ta hiểu chi ánh gió nhiệm mầu ?
    Những hạt lệ của trích tiên đày đọa"
    Avatar

    Hàn Mặc Tử (22 tháng 9, 1912 – 11 tháng 11, 1940) là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra trường thơ loạn, trường thơ điên.

    Tiểu sử Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định lên Sài Gòn lập nghiệp. Năm đó ông 21 tuổi. Lên Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người [1].

    Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó. Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn và mất khi mới 28 tuổi [2].

    Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện. Tên của ông được đặt cho đường phố ở Huế và Phan Thiết. Có ít nhất hai bài hát được sáng tác để nói về cuộc đời ông: Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh[3] và Trường ca Hàn Mặc Tử của Phạm Duy[4].

    Năm 2004, Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã thực hiện bộ phim Hàn Mặc Tử để kỷ niệm ông. Một số bài thơ nổi tiếng Nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử đã được phổ nhạc vì tính lãng mạn của nó. Sau đây là một số bài được nhiều nhà phê bình đánh giá là hay và đã được đưa vào sách giáo khoa bậc trung học.



    Đây thôn Vỹ Dạ


    Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
    Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
    Gió theo lối gió, mây đường mây
    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
    Có chở trăng về kịp tối nay?
    Mơ khách đường xa, khách đường xa,
    Áo em trắng quá nhìn không ra...
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
    Ai biết tình ai có đậm đà


    *****


    Mùa xuân chín



    Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
    Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
    Sột soạt gió trêu tà áo biếc
    Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang
    Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
    Bao cô thôn nữ hát trên đồi
    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
    Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
    Hổn hển như lời của nước mây
    Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
    Nghe ra ý vị và thơ ngây...
    Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
    Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
    Chị ấy năm nay còn gánh thóc
    Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?


    Avatar
    Những năm 1938 - 1939, thi sĩ đau đớn dữ dội bởi bệnh tật, nhưng trước mặt bạn bè, chàng cố kìm nén. Chàng chỉ gào thét trong thơ: "Trời hỡi! bao giờ tôi chết đi /Bao giờ tôi hết được yêu vì/ Bao giờ mặt nhật tan thành máu/ Và khối lòng tôi cứng tựa si".

    Lúc này, sau một thời gian chữa chạy bằng đông y, chẳng những căn bệnh phong cùi không thuyên giảm chút nào mà ngược lại còn làm thân thể chàng ngày một tiều tụy đi vì những tác dụng phụ của thuốc. Mặt khác, thông tin về việc chàng bị mắc bệnh phong đã đến tai chính quyền địa phương. Do đó, chàng phải liên tục thay đổi chỗ ở để tránh sự truy đuổi gắt gao của Sở Vệ sinh công cộng thành phố Quy Nhơn. Cuối cùng, gia đình tìm thuê cho chàng được một nơi ở khá kín đáo trong khu lao động nghèo nằm bên cồn cát trắng ven biển. Đó là một túp lều tranh mà theo Hoài Thanh kể là rách nát đến độ phải lấy giấy báo và bao thư che những chỗ dột trên mái nhà.

    Trong thời kỳ bệnh tật, Tử sáng tác được ba tập thơ là Thơ điên, Xuân như ý và Thượng thanh khí. Nhưng có điều đặc biệt là, những câu thơ của chàng cứ tiến dần đến chỗ rối rắm khó hiểu theo tiến triển bệnh tật. Nhiều câu thơ đọc lên nghe rất hay nhưng độc giả hầu như không ai hiểu tác giả muốn nói gì. Tuy nhiên, theo lời Quách Tấn thì, điều lạ lùng là dù rối rắm khó hiểu như thế nhưng thơ Tử được người đời chuyền tay nhau đọc thuộc lòng, đọc như đọc kinh, không hiểu gì cũng đọc thuộc làu làu. Như thể thơ của chàng lúc đó có ma lực. Hoài Thanh cũng xác nhận điều lạ lùng này: "Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mặc Tử đâu phải chuyện dễ. Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu, bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vị giáo chủ".

    Chúng ta biết rằng, lúc Hàn Mặc Tử còn sống, chàng chỉ mới xuất bản được mỗi một tập Gái quê vào năm 1936, khi chàng còn khỏe mạnh và có tiền. Còn phần lớn thơ chàng làm ra trong thời kỳ bệnh tật này thì đến với người yêu thơ qua cách người này cho người khác mượn sổ để chép tay. Thơ của Tử không chỉ làm thích thú những cô cậu học sinh trung học vốn mơ mộng mà còn lan tỏa ra nhiều giới khác. Và thật đáng ngạc nhiên, nó còn lay động đến cả giới tu hành. Có một nữ tu trẻ đẹp chừng mười bảy mười tám tuổi ở ngôi chùa Liên Tôn gần đó, vì ái mộ thơ Tử nên đã không ngần ngại căn bệnh phong cùi gớm ghiếc, ghé vào căn chòi để thăm chàng. Về sau chàng đã đưa ni cô vào trong thơ của mình với những tình cảm khá đặc biệt.

    Một điều nữa, không những ma lực có ở trong lời thơ Tử mà còn nằm trong chính con người Tử khi chàng cất giọng đọc thơ. Yến Lan kể: "Nếu ai đã có lần nghe anh ngâm thơ thì mới cảm thấy hết cái cảm giác kỳ lạ lần đầu bắt gặp: nôn nao, nôn nao. Và cộng với lời thơ, gây nên một không khí mông lung. Chúng tôi như bị dồn vào thế giới nào có suối, có đồi, có bóng dáng những cuộc hành hương, và nhạc điệu cung văn, đồng bóng".

    Yến Lan, Chế Lan Viên, Hoàng Tùng Ngâm, Trần Kiên Mỹ... là những người bạn thân thiết thường ghé thăm chàng để an ủi chàng, một tâm hồn quá khổ đau lúc này như chàng viết: "Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh/ Hơn hết u buồn của nước mây/ Của những tình duyên thương lỡ dở/ Của lời rên xiết gió heo may". Bạn bè đã được nghe chàng đọc những vần thơ như chảy ra từ xương tủy. Yến Lan kể tiếp: "Anh đã biến thành những chuỗi dài đau khổ, cao thấp chen nhau như từng tia lửa bùng lên, như mảnh lụa tươi vàng bị xé vụn. Anh đã lấy xác thịt minh họa cho lời thơ. Có khi chúng tôi chảy nước mắt. Còn anh, anh đã thành một người say. Các lần ngâm thơ của anh đều diễn ra như thế vì những bài thơ ấy đều là những bài xót xa nhất. Đặc biệt là hôm anh ngâm bài Thánh nữ đồng trinh Maria. Xáo trộn trong đau thương, còn có nỗi trìu mến hân hoan kỳ lạ".

    Hàn Mặc Tử đã đắm mình trong cái không gian vừa đau thương vừa bay bổng đó để làm ra những vần thơ khiến người đời say đắm cho đến lúc chàng phải bước chân vào trại phong Quy Hòa ngày 20/9/1940.

    (Theo Thanh Niên)



     
     
    Gửi ý kiến